Hành động vì tương lai của Bạn!

Tóm tắt thuyết minh Dự án: Chung đường – Chung xe

  1. 1.      Khái niệm

Đi chung xe (Ridesharing, Liftsharing, carpooling, vanpooling) là hình thức người có xe trở thêm người khác đi cùng tuyến đường (chung đường). Đi chung xe có thể làm giảm ùn tắc giao thông do giảm bớt số chuyến xe vào giờ cao điểm đồng thời giảm chi phí hạ tầng đường sá, bãi đỗ, tai nạn và phát sinh khí thải. Đi chung xe có chi phí thấp nhất tính theo hành khách x km so với bất kỳ loại hình vận tải ô-tô nào khác do tận dụng được những chỗ trống trên xe.

 

  1. 2.      Mục tiêu khả thi

TT

Chỉ tiêu

Kịch bản thấp

Trung bình

Cao

Ghi chú

1

Tỷ lệ người đi chung xe

4%

8%

12%

Mới chỉ gần bằng ½ tỷ lệ ở nước ngoài

2

Chi phí tiết kiệm được (so với chi phí phải chi cho VTHK CC)

1.086

2.172

3.258

(Tỷ đồng/năm)

- Hà Nội: 10%; 1.000 tỷ đ/ năm

400

800

1.200

 

- HCM: 7%; 1.200 tỷ đ/năm

686

1.372

2.058

(xấp xỉ)

3

Tỷ lệ phương tiện giảm (không tham gia lưu thông) vào giờ cao điểm

2%

4%

6%

Bằng ½ tỷ lệ người đi chung xe

4

Mức độ giảm ùn tắc giao thông có thể đạt

10%

20%

30%

Khái niệm Cấp dịch vụ (GoS) theo công thức tính lưu lượng Erlang B – Cần xem xét chi tiết hơn

5

Giá trị mang lại do giảm ùn tắc

1.890

3.780

5.670

(Tỷ đồng/năm)

- Hà Nội: 5.900 tỷ đ/ năm

590

1.180

1.770

 

- HCM: 13.000 tỷ đ/năm

1.300

2.600

3.900

 

 

  1. 3.      Kinh nghiệm quốc tế

-          Là hình thức di chuyển văn minh-tiết kiệm ở các nước phát triển: Châu Âu, Mỹ, Canada, Nhật Bản,.v.v.

-          Số người đi làm chung xe ở Mỹ chiếm từ 10% đến 20%. Các thống kê cụ thể trên một số tuyến, một số khu vực khác cho thấy tỉ lệ người đi làm chung xe còn cao hơn nữa.

-          Các nước phát triển đều có chính sách Quảng lý Giao thông theo nhu cầu đi lại (TDM). Trong đó, chú trọng : “Quản lý nhu cầu giao thông không có nghĩa là buộc người tham gia giao thông từ bỏ phương tiện cá nhân để sử dụng phương tiện giao thông công cộng mà phải đem đến cho họ những giải pháp lựa chọn sáng suốt, thông minh và kinh tế hơn” - Thủ tướng Anh Tony Blair. Việc khuyến khích, hỗ trợ đi chung xe cụ được cụ thể hóa bằng các chính sách như: Ưu tiên xe trở nhiều người –HOV (làn xe, bãi đỗ, trợ giá, bảo hiểm, giải thưởng, .v.v.); hạn chế xe đi một mình (SOV).

  1. 4.      Tình hình Việt Nam

4.1.            Về chính sách, văn bản qui phạm pháp luật

-          Đã có đề cập đến các vấn đề: “Xây dựng các chính sách đồng bộ, hợp lý nhằm hạn chế sự gia tăng số lượng phương tiện giao thông cá nhân, đặc biệt có chính sách phù hợp nhằm hạn chế và tiến đến giảm bớt số lượng xe máy tham gia giao thông;

Khuyến khích các  thành phần kinh  tế  tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông và vận tải hành khách công cộng thông qua những biện pháp như cải tiến cơ chế, chính sách quản lý và cấp vốn, ưu đãi về thuế, trợ giá, …;”

-          Chưa đề cập đến khái niệm và tổ chức đi chung xe để có những hình thức khuyến khích cụ thể, phù hợp và có hệ thống.

4.2.            Về thực tiễn triển khai tự phát (theo trình tự thời gian xuất hiện)

-          Thành viên gia đình, sinh viên, đồng nghiệp đi làm chung xe để tiết kiệm chi phí;

-          Chungduong.com (diễn đàn phi lợi nhuận);

-          Letgo24.com (chung xe tải, Giải thưởng Nhân tài đất việt 2010);

-          Taxi247.vn (tận dụng taxi chiều trống);

 

  1. 5.      Đề xuất Phương án triển khai chung đường- chung xe khả thi ở Việt Nam

5.1.            Phương án triển khai đi chung xe

-          Đi chung xe đi làm bằng phương tiện cá nhân

-          Đi chung xe đi làm bằng xe trở CBCNV do cơ cơ quan bố trí (Vanpool)

-          Đi chung xe trên các tuyến đặc biệt, các dịp đặt biệt, lễ tết hay cuối tuần về quê

5.2.            Chính sách khuyến khích người đi chung xe

5.2.1.      Chính sách của Nhà nước

-          Tuyên truyền nâng cao ý thức công đồng về việc đi chung xe là hành động ích nước-lợi nhà (như đối với việc tiết kiệm điện, nước);

-          Đưa khái niệm xe đi chung (trở nhiều người) và các điều kiện hạ tầng kèm theo vào các văn bản qui phạm pháp luật, chiến lược, qui hoạch;

-          Xây dựng, triển khai làn ưu tiên, điểm soát vé ưu tiên cho xe trở nhiều người;

-          Thu phí/cấm ô-tô, xe máy trở 1 người trên một số tuyến đường;

-          Qui hoạch, xây dựng bãi đỗ/giữ xe phù hợp phục vụ cho việc đi chung xe;

-          Tạo điều kiện thuận lợi để hành khách có thể dàn xếp đi chung xe taxi ở những điểm, tuyến đường phù hợp.

-          Chính sách giá vé giữ xe khuyến khích việc đi chung:

+ Tăng giá vé giữ xe: gấp ba trong vành đai 1; gấp đôi từ vành đai 1 đến vành đai 2;

+ Miễn phí giữ xe ở các bãi đỗ ngoài vành đai 3.

-          Chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động phục vụ việc đi chung xe qua mô hình trợ giá bằng quĩ giao thông công ích (như mô hình Quĩ viễn thông công ích);

5.2.2.      Tài trợ/ khuyến khích của Doanh nghiệp

-          Trả tiền mặt thay cho việc cung cấp vé tháng giữ xe miễn phí cho CBCNV;

-          Tặng thêm vé tháng xe buýt cho CBCNV đăng ký đi chung xe;

-          Liên kết nhiều cơ quan/đơn vị trong cùng tòa nhà/khu vực để xác suất người đi chung phù hợp lớn hơn.

-          Bán vé Vanpool (trường hợp bố trí xe đưa đón CBCNV) = ¾ giá vé xe khách cho các chỗ còn trống trên xe cho các cơ quan/đơn vị khác trên cùng địa bàn

5.2.3.      Sự tham gia của cộng đồng

-          Tích cực tham gia đi chung xe để tiết kiệm chi phí, giảm ùn tắc giao thông (ích nước-lợi nhà);

-          Các Hội đồng hương, sinh viên,… đẩy mạnh chương trình tổ chức đi chung xe vào các dịp lễ tết, cuối tuần, .v.v.

 

  1. 6.      Kết Luận và Kiến nghị

-          Đi chung xe là hình thức đi lại văn minh, sử dụng hiệu quả phương tiện, hạ tầng giao thông hiện có. Các nước phát triển đều có chính sách khuyến khích việc đi chung xe. Đối với xã hội, khái niệm xe cá nhân cần hạn chế có nghĩa là xe đi một mình chứ không phụ thuộc vào hình thức hay sở hữu xe.

-          Ở Việt Nam, đi chung xe có thể giúp tiết kiệm cho xã hội từ 3.000 tỷ đ đến 9.000 tỷ đồng mỗi năm. Chưa kể đến việc đi chung xe còn giúp tiết kiệm đáng kể cho mỗi cá nhân;

-          Lợi nhuận trực tiếp thu được từ doanh nghiệp kinh doanh tổ chức đi chung xe là tương đối nhỏ và chưa chắc chắn; Doanh nghiệp tham gia cần phối hợp các loại hình kinh doanh khác để có kinh phí bù đắp;

-          Nhà nước cần xây dựng chính sách và tài trợ để đi chung xe có thể trở thành phong trào rộng lớn. Qui mô tổ chức hoạt động đi chung xe càng lớn thì xác suất đi chung càng cao và ảnh hưởng lớn đến sự thành công.

-          Doanh nghiệp, người tham gia đi chung xe ngoài việc tiết kiệm được chi phí, còn cần được tuyên dương khuyến khích đã hành động vì lợi ích cộng đồng.

Kiến nghị Bộ GTVT tài trợ các dự án kinh doanh khả thi sau đối với doanh nghiệp:

-          Tài trợ thực hiện 01 đề tài cấp bộ trong thời gian 3 tháng về vấn đề chung đường – chung xe;

-          Xây dựng mạng xã hội đi chung xe, nòng cốt là trang chungduong.com;

-          Dự án xây dựng, tổ chức điểm đi chung xe kết hợp kinh doanh điểm dừng nghỉ, bãi đỗ xe miễn phí/hoặc phí thấp.